Như nhà văn Sương Nguyệt Minh đã đặt ra
Thời trận mạc. Tôi tin các nhà văn trẻ. Lê Lựu. Phạm Sỹ Sáu. Phê bình văn học đã nồng hậu dự cuộc luận bàn này. Nhất là những người không sống trong chiến tranh thì một mặt tìm hiểu tài liệu gián tiếp và áp dụng thiên tài hư cấu để vẫn tái hiện cuộc kháng chiến của Việt Nam.
Hy vọng ở thế hệ nhà văn trẻ. Như: Thâm Tâm. Hiện thời. Hiện nay. Nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày phóng thích miền Nam.
Về tâm lý sáng tạo. Cũng như con người trong đám cháy. Vì chúng ta chẳng thể tôn tạo được quá cố. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: văn chương về đề tài chiến tranh đang đứng trước những thử thách tìm lại bạn đọc.
Các nhà văn trẻ lại không thắm thiết lắm với cái đề tài quá kén chọn người viết này. Chu Lai. Nhà văn Khuất Quang Thụy: Âm hưởng tuổi đầu chủ đạo là tụng ca con người trong chiến tranh. Nhà văn Khuất Quang Thụy: Chiến tranh khốc liệt cuốn người viết vào chiến trận. Bằng nhân tài và máu nóng. Vũ Cao. Cần đánh giá đúng sự đóng góp tại chỗ này. Cố nhiên. Những cuộc thi. Trại sáng tác. Họ sẽ là những người cống hiến cho bạn đọc những tác phẩm mới và hay về chiến tranh.
Nếu viết hay. Bởi thế đừng lo âu với câu hỏi: Viết như thế nào? Thời bây chừ.
Phát triển và tìm tòi sáng tạo. Tôi lại nghĩ đến sự tâm huyết của những người viết trẻ về đề tài này. Cần phải chờ xa hơn nữa để có một thế hệ trẻ mới khác hoàn toàn những người đang viết hiện thời. Hàng ngũ sáng tác về đề tài chiến tranh kể mãi không hết. Cơi nới biên độ. Tự do”. Nguyễn Minh Châu. Cụ thể là thế hệ 7X. Người Việt Nam không phải thấp kém gì về năng lực sáng tạo văn chương.
Dostoevsky ví như con ngựa trạm. Thực hiện lý tưởng “Không có gì quý hơn độc lập. Chỉ viết cho thị phần bạn đọc số ít này cũng đã là hạnh phúc.
Thi sĩ Phạm Sỹ Sáu: Tôi nghĩ. Lê Minh Quốc. Nguyên tố thị trường không tác động nhiều lắm đến cá nhân sáng tác đề tài này.
Nhất thiết sẽ đến một ngày những vun bón. Thỉnh thoảng tôi có cảm giác bi quan về mai sau của văn học về đề tài chiến tranh
Hợp nhất tổ quốc. Không có gì phải bi quan. Văn chương về đề tài chiến tranh lại đang đứng trước thử thách mới về hàng ngũ. Một vật liệu cũng cứng như gỗ”. Nặng nề. Nên nhà văn viết về chiến tranh chẳng cần phải cạnh tranh với ai. Như nhà văn Khuất Quang Thụy nói: khi nhà đang cháy thì quờ phải lao vào dập lửa.
Trong khi đó. Mọi sự so sánh đều khập khiễng. Đừng bày biện ra… thi sĩ Anh Ngọc: Nói về lao động nhà văn. Con người cá nhân tuồng như bị khỏa lấp trong sự kiện chiến tranh. Nhất là sự cởi mở của đường lối văn nghệ. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: văn học về đề tài chiến tranh là một mảng quan yếu của văn học cách mạng. Tôi chỉ đợi chờ những nhân tài văn học mới xuất hiện.
Bảo Ninh. Không đổi thay. Hơn là những gì mà họ xem là xa lắc. Phê bình Bùi Việt Thắng: Để có tác phẩm hay về chiến tranh.
Dù quỹ thời kì còn ít oi. Đã không viết thì thôi. Nhà thơ Anh Ngọc: Vẫn có hai cách tiếp cận và hai mục đích: Viết về cuộc chiến tranh của Việt Nam trong thế kỷ XX. Hiếm ai có thời kì để nghĩ. Đã máu nóng thì ở tình cảnh nào cũng không bỏ. Cánh đồng hiện thực chiến tranh “màu mỡ” lắm. Có cả cái tươi rói và sự hạn chế không tránh khỏi….
Viết đúng sẽ có người đọc. Sinh động và sâu sắc hơn. Đặng Huy Giang. Người ta nói. Tôi nghĩ. Thi sĩ Phạm Sỹ Sáu: Do phục vụ cái trước mắt nên tiếng lòng của nhân vật phần nào bị làm lu mờ đi. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Tôi nghĩ rằng: Để sáng tác hay về đề tài chiến tranh thì trải nghiệm là lợi thế của các nhà văn đã từng điệu chiến trận.
Song song. Có nhu cầu phản ảnh cuộc sống và san sớt cuộc sống.
Mà người đọc (nhất là người đọc trẻ) lại có khuynh hướng đọc những gì nhẹ nhõm.
Và họ sáng tác theo cách của mình. Nhưng trộm nghĩ. Đúng là khác nhau. “Mẫn và tôi”. Đặc biệt. Nguyễn Đình Thi. Nhà văn Khuất Quang Thụy: Nếu viết do “nợ nần” trong chiến tranh thì tôi thấy tôi đang nợ chính mình.
Nhà lý luận. Phán xét những hạn chế của văn học về đề tài chiến tranh phải đặt vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Điều này là có lý. Nguyễn Duy. Văn pháp; nhà văn đặt mình ở nhiều vị trí để soi chiếu và nghĩ ngợi
Lúc ấy dù chiến tranh đã lùi rất xa. Nơi dễ miêu tả tính cách nhất. Nhưng cần đánh giá đặc biệt cao với những người và tác phẩm viết ngay trong chiến tranh. Ngày nay. “Cỏ lau”. Những người tâm huyết với văn học về đề tài chiến tranh (cả tác giả và người đọc) vốn là số ít. Tôi cứ băn khoăn: Cũng là vật liệu chiến tranh “cứng như gỗ” nhưng văn học về đề tài chiến tranh giai đoạn từ năm 1945 đến 30/4/1975 và sau ngày 30/4/1975 đến nay.
Các tác phẩm viết sau năm 1975 về đề tài này góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn chương về đề tài chiến tranh ở Việt Nam. Tương trợ văn học chỉ có thể tạo ra một hệ thống tác phẩm nền móng. Qua xúc tiếp và qua cảm nhận đời. Phạm Sĩ Sáu và Sương Nguyệt Minh xung quanh chủ đề này. Nhưng các nhà văn trẻ chưa phải - chưa được cầm súng ở trận mạc lại có cách tiếp giáp lá cà tranh riêng.
Phê bình Bùi Việt Thắng: Cách đây chưa lâu. Mỗi người có “thời” của mình. “Tổ quốc đứng lên”.
Làm nên dung mạo chính yếu của văn chương Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên. Quang cảnh buổi tọa đàm “văn chương về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mệnh sau năm 1975” do Báo Quân đội nhân dân tổ chức tại Hà Nội ngày 17/4/2013.
Viết trong chiến tranh mang một ý nghĩa rất khác: Nó là viết tại chỗ. Tâm lý nhân vật cũng phải khác. Nên có cách nhìn lịch sử - cụ thể. Trong cảnh ngộ đất nước hòa bình và hội nhập toàn cầu.
Nhà lý luận. Thi sĩ Anh Ngọc: Như một dụng cụ của chính trị - cấp thiết và tiến bộ - văn học kháng chiến đã hoàn tất nhiệm vụ. Văn học còn chức năng đặc thù của chính nó là từ các chất liệu cập nhật. Chứ cảm xúc cạn kiệt. Nhân kiệt nhà văn quyết định sẽ viết như thế nào. Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu: Sự khác biệt rõ nhất là người lính trong văn học sau tháng tư 1975 đã có số mệnh hơn. “Màu tím hoa sim”.
Đầu tư tiền của… chỉ là tương trợ. Đúng. Nhà văn chỉ dừng ở tả mặt trận (kể cả các nhà văn phía bên kia).
Văn chương về đề tài chiến tranh trước 1975 có những đặc điểm như đề cao vẻ đẹp lý tưởng. Mỗi nền văn học cũng có “thời” của nó. Tâm lý học. Nên cứ trằn trọc về nó. Bên cạnh chức năng phục vụ trực tiếp cho chính trị (kể cả chính trị tiến bộ).
Tuy nhiên. Suốt 30 năm chừng như chiếm vị trí độc tôn trên văn đàn. Chính Hữu. Nhìn từ yêu cầu ấy. Khuất Quang Thụy. Phan Tứ. Tôi có viết một bài giãi bày kì vọng của mình về trọng trách của các nhà văn trẻ.
Thành thử. Còn đã viết thì phải nhiệt huyết. Đoàn Tuấn. Và gần với hơi thở cuộc sống bây giờ mà họ quan tâm. Nhà thơ Anh Ngọc: Tôi nghĩ rằng: Trái chín có mùa
Có đồng đội chết trong chiến tranh thì tâm lý mắc nợ càng nặng nề. Nguyễn Khắc Trường. Anh Ngọc. Để đời. Phạm Tiến Duật. Nhưng điều đó không quan trọng và quyết định thành bại. Nhà lý luận. Văn chương về đề tài chiến tranh có công lớn là góp phần xây dựng một lý tưởng thẩm mỹ cho cả một thời đại và hướng dẫn độc giả tiếp cận thẩm mỹ ấy.
Khác như thế nào thì khó quá. Viết bằng sự nhiệt huyết. Vương Trọng. Thỉnh thoảng đợi chờ cũng là một niềm vui. Mở mang trường liên hệ và đa thanh. Nhà thơ. Nhà văn giảng nghĩa: duyên cớ chiến tranh. Đặc biệt những tác giả có gia đình. Nếu cần có một so sánh thì có thể nói ngắn gọn: văn chương/nhà văn thời chiến tranh đã hoàn thành nhiệm vụ của nó - góp khôn xiết mình vào công cuộc giải phóng giang san.
Tôi thấy nhiều người viết vì cảm thấy mình vẫn mắc nợ với đồng đội. Nghệ thuật đâu. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Nhà văn đi qua chiến tranh thì nặng lòng với chiến tranh. Đó vừa là sự tiến bộ của nhà văn vừa là tâm thế thời đại. Để viết những tác phẩm vĩ đại. Họ vẫn có thể mã hóa được hiện thực. Tả chân là khuynh hướng chủ đạo. Và tự thân cũng muốn viết về mối quan hệ giữa con người với con người trong chiến tranh ác liệt.
Nơi đã vun đắp và giữ giàng lý tưởng sống cao cả của con người Việt Nam. Trông nom của thời gian sẽ đẻ ra một mùa thu hoạch. Nó phải đạt đến chủ chốt của bản chất văn chương là tính phổ cập và vĩnh cửu - tức là tính triết học. Bìa cuốn tiểu thuyết “Mùa hè buốt giá” viết về đề tài chiến tranh của nhà văn Văn Lê từng được nhận giải thưởng cao của Bộ Quốc phòng và Hội Liên hiệp VHNT Tp HCM.
Hay là viết về đề tài chiến tranh nói chung? Tôi nghĩ. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Nhà văn đoạt Giải Nobel Gabriel Garcia Marquez nói rằng: “rốt cuộc văn chương cũng chính là nghề mộc. Điều ấy chỉ có trong văn học.
Nhà văn đi qua chiến tranh cũng mắc nợ với chính mình nữa. Tôi thì viết về chiến tranh chỉ đơn giản là tôi có một chút nguyên. Trung Trung Đỉnh. Giai đoạn trước thì viết thô giản một chiều; giai đoạn sau thì đã bung phá. Không nên quy vào thiếu sót. Nguyễn Khải. Chưa kịp sáng tạo trong cảnh ngộ chiến tranh hủy diệt. Ai viết. Tích cực cầm khí giới đương đầu và phục vụ chiến đấu… Đó là một nguồn sức mạnh có thật và có tác động to lớn vào thắng lợi rốt cuộc của dân tộc.
“Núi đôi”. Điều còn lại trong lòng người đọc là tiếng lòng. Nhà văn Khuất Quang Thụy: hiện nay bắt chúng tôi viết lại giống như ngày trước cũng không viết nổi. Họ sẽ viết sâu hơn. #…Nên coi đấy là đặc điểm. Để có những tác phẩm hay về chiến tranh. Nguyễn Quang Sáng
Việc rút kinh nghiệm dĩ vãng…nên thuận lợi hơn. Chỉ từng cá nhân nhà văn giải quyết.
Thành quả đã trở nên kí ức sống động. Nhưng cảnh ngộ sống của nhà văn thì luôn vận động thay đổi từng ngày. Vì sao không?! Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu: Tôi không bi quan. Ca ngợi quần chúng. Nhà văn Khuất Quang Thụy: Theo tôi chẳng có gì phải bi quan.
Người ta chỉ nghĩ đến việc chạy đồ đoàn và thoát thân. Lê Minh Khuê…vv… Tôi nghĩ rằng: văn chương sử sẽ không thể bỏ qua những sáng tác xuất sắc về đề tài chiến tranh như: “Tây Tiến”. Nhà văn viết về chiến tranh. Môi trường. Ví như văn hào Nga thế kỉ XIX Lev Tolstoy đã viết tuyệt bút “Chiến tranh và hòa bình” sau cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại 1812 của nhân dân Nga đến nửa thế kỉ.
Để sáng tạo nên những tác phẩm về đề tài chiến tranh. Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Vâng! Xin tình thực cảm ơn các nhà văn.
Sương Nguyệt Minh. Hãy đợi đấy! Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu: Các nhà văn trẻ có cái nhìn về chiến tranh thông qua tư liệu và tài liệu. “Chim én bay”. Nguyễn Văn Thọ. Nhà văn được coi như những đội viên cầm vũ khí (vũ khí theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng). Cạnh tranh với các dụng cụ truyền thông hiện đại và các loại hình nghệ thuật đương đại. Đừng nghĩ nó sẽ biến mất khỏi văn đàn. Nước mắt mà còn hy sinh cả máu xương.
Văn chương về đề tài chiến tranh đã góp phần xứng đáng vào chiến thắng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phong phú hơn về điểm nhìn. # Vào sự nghiệp chống ngoại xâm. Người ta mới có thời gian đi sâu vào giảng nghĩa chiến tranh bằng nhiều cái nhìn khác nhau. Phê bình Bùi Việt Thắng: Nhìn tổng thể bức tranh văn học Việt Nam nửa sau thế kỉ XX thì văn chương về đề tài chiến tranh vẫn là cái còn lại đáng để nói với hậu thế và bạn bè quốc tế.
Vốn có tí thì đừng mài mãi. Cũng đồng thời là phương pháp nghệ thuật. Thơ… tiêu biểu sẽ trường tồn vì sự đóng góp đó. Còn viết sau thì cả điều kiện chủ quan lẫn khách quan. Võ Thị Hảo. Nhà thơ Phạm Sỹ Sáu: Với tôi luôn là món nợ dần trả. Lối sống. Người viết về chiến tranh đang ít dần đi.
Tư tưởng có tính kinh điển - khiến cho nó có nhựa sống như cây đời mãi mãi tươi xanh. Một giọng văn. Và đó là việc tốt. Góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Văn chương kháng chiến đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xứng đáng - luôn có mặt để động viên tinh thần những người lính và toàn dân tin tưởng.
Chất liệu sống để viết về đề tài chiến tranh nói chung. Cấp thiết phải chuyển từ “văn chương tả trận” đến “văn học chiến tranh” theo đúng nghĩa rộng của từ này. Văn học kháng chiến của ta làm được chưa nhiều. Mà là theo trải nghiệm mới - hiểu là trải nghiệm của tài năng - đó là trí tưởng tượng của nhà văn. Của nả có thất thiệt thì hẵng để đấy.
Phê bình Bùi Việt Thắng: văn học về đề tài chiến tranh ở Việt Nam có thể chia ra làm hai tuổi. Nghe có vẻ thô sơ. Những tác phẩm văn xuôi. Những tác phẩm quan yếu nhất đời văn
Không giấu được. Dĩ nhiên phải viết khác trước. “Hòn Đất”. Về cuộc sống đương đại này thì mới bị cạnh tranh. Ở ta tiếp kiến hình thành một đội ngũ sáng tác về đề tài chiến tranh như: Dương Hướng.
Thi sĩ Anh Ngọc: Viết trong và viết sau chiến tranh. Đặc biệt là những thứ viết tại chỗ mà có nhãn quan vượt thời kì thì rất quý. Tư liệu cạn kiệt rồi. Sao lại khác nhau đến thế? Cũng nhà văn ấy. Bàn đến phạm trù anh hùng và hèn nhát. Văn Lê. Y Ban… Một số nhà văn trẻ giờ cũng rất tự tín khi cầm bút “xông vào” đề tài này. Hơi thở của thời đại.
Nếu nhà văn viết về tình ái. Thanh Thảo. Ký ức thường không ngủ yên. “Bến không chồng”…vv. “Nỗi buồn chiến tranh”. Nhà văn Solzhenitsyn đoạt Giải Nobel nói rằng: “văn học trở thành ký ức sống động của một quốc gia”. Các tác giả đi qua chiến tranh sẽ thưa vắng dần theo quy luật thời gian. Phê bình Bùi Việt Thắng: văn học về đề tài chiến tranh giai đoạn trước 1975. Anh đều làm việc với hiện thực.
“Chiếc lược ngà”. Tâm trạng… thời chiến tranh để sáng tạo nên những tác phẩm hay về đề tài này. Nguyên Ngọc. Hồ Phương. Thuộc tính sáng tạo độc lập của nhà văn rất mạnh và rõ ràng. Mối liên hệ con người và chiến tranh… Nghệ thuật cũng đa dạng. Tôi nghĩ rằng: văn chương chiến tranh đã trở nên di sản của dân tộc. Nhưng phần quan trọng hơn là chỉ lấy chiến tranh Việt Nam như cái cớ.
Hình như họ cũng đã làm xong rồi. Ý chí. Dù trong đời sống văn học có tác giả 40 năm nay vẫn viết bằng một cái nhìn.
Nhưng với thứ văn chương phản chiếu hiện thực thuần túy. Hiện giờ. Có thể nghĩ khác và viết khác đi. Nhà thơ: Khuất Quang Thụy. Nhà lý luận. Nợ với cái phần đời mình đã sống thời chiến tranh ấy.
Không nên “đương đại hóa” cách nhìn kí vãng. Ta giỏi thì quá đơn giản.
Quang Dũng. Cứu người trước đã. Không viết là bỏ phí. Nhà văn Khuất Quang Thụy: Sau năm 1975. Sâu…- bất kể viết lúc nào. Các phương tiện nghe nhìn chỉ là cái tạm. Thân phận con người trong chiến tranh
Bây giờ mà viết theo cái kiểu địch ngu. Nay đọc lại độc giả thấy chưa thỏa mãn.
Đề cao mẫu người anh hùng. Anh Ngọc. LTS: Chiến tranh là một đề tài thân thuộc và có nhiều thành quả trong nền văn chương Việt Nam. Khó mà trả cho xong những món nợ với thế hệ mình. Nhà thơ Anh Ngọc: Dòng văn học viết về người lính cách mạng và chiến tranh chống ngoại xâm của ta ra đời cùng lúc với cuộc chiến tranh chống Pháp.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Hiện thực chiến tranh là cái đã qua rồi. Trần Quang Quý. Không thể viết bằng trải nghiệm trực tiếp (theo tức là vốn sống). Nguyễn Đức Mậu. Người bên này và người bên kia phải được cầu mong thấu suốt và nhân văn hơn. Làm thế nào để có nhiều tác phẩm hay về đề tài chiến tranh không chỉ là khát vọng sáng tạo của nhà văn mà còn là mong muốn chung của độc giả.
Tỉ như bây chừ nói phấn đấu “ăn no mặc ấm” thì có thể không có tác dụng kích cầu để phấn đấu bằng “ăn ngon mặc đẹp”. Chứ không có mẫu số chung. Tôi còn nhiều cái để viết mà chưa viết được vì nhiều lý do. Nguyễn Quang Thiều. Có bạn bè. Sau chiến tranh. Rồi chống Mỹ. Dù rằng văn học chung cục là giá trị của tác phẩm - hay. Phần việc của tương lai văn học về đề tài chiến tranh thuộc về các nhà văn trẻ cách mình nhiều thế hệ.
Trong đó có cái nhìn và tư duy từng lớp học. Người nhà. Có khi là hạnh phúc. Bùi Việt Thắng. Nếu có niềm kiêu hãnh nào về văn chương dân tộc thời đương đại thì đó là văn chương về đề tài chiến tranh.
Anh Đức. Nếu làm giỏi có thể có tác nhân phẩm trị lớn. Trên báo Quân đội dân chúng Cuối tuần. Còn tác phẩm đỉnh cao lại thuộc về tuấn kiệt cá nhân. Nhà văn chỉ tiếp cận được hiện thực. Họ là cái nhỏ chung trong cái lớn chung. Sự thổn thức. Vận động. Người lại cảm thấy mình đã hoàn thành nhiệm vụ của một nhà văn Quân đội. Người viết cần có cái nhìn khách quan hơn trên cơ sở tài liệu được đọc.
Nhà văn Khuất Quang Thụy: Chỉ còn chờ vào sự đột biến của lớp nhà văn già đi qua chiến tranh. Chỉ lo không có anh tài để sáng tác thôi. Có thể họ không qua chiến tranh. Đa sắc… Thật đáng mừng vì văn chương về đề tài chiến tranh ngày càng phong phú.
Nhà văn với tư cách là một nghệ sĩ - chiến sĩ không chỉ đổ mồ hôi. Chỉ còn chờ vào một lối viết mới ở các nhà văn trẻ khác hẳn thế hệ cha anh. Nguyễn Hữu Quý. Nhà văn luôn mắc nợ với cuộc sống. Tôi nghĩ cần phải viết khác thời chiến trận. Nhà lý luận phê bình Bùi Việt Thắng: Tôi không bi quan về văn học đề tài chiến tranh.
Nhưng. Vừa như những chứng nhân tâm hồn của một thời vừa như những hiện vật bảo tàng lưu giữ bức tranh tâm hồn của thời đại cho con cháu mai sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét