Kết quả bẩm đánh giá sâu cho thấy, tỉ lệ phần trăm trẻ bị thiếu hụt trong lĩnh vực phát triển kỹ năng giao tế và hiểu biết chung là cao nhất với 54,7%, tiếp đó là lĩnh vực phát triển tình cảm với 41,2% trẻ bị thiếu hụt, thứ ba là lĩnh vực phát triển ngôn ngữ và nhận thức 39%, thứ tư là trẻ bị thiếu hụt ở lĩnh vực phát triển năng lực xã hội 38,5% và 36,5% trẻ bị thiếu hụt ở lĩnh vực sức khỏe và thể chất
Đời sống càng khó khăn, kém phát triển thì tỉ lệ phần trăm trẻ bị thiếu hụt một lĩnh vực phát triển trở lên càng cao. Ảnh minh họa. Nếu trẻ sử dụng tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số, sự thiếu hụt các lĩnh vực phát triển của trẻ nhiều hơn, chiếm 54,1%.
Nếu trẻ chỉ dùng tiếng Việt thì sự thiếu hụt chí ít một lĩnh vực trở lên thấp nhất là 19,3%. Và, nếu bạn muốn có một nền giáo dục công bằng, nếu bạn muốn tăng cường nhịp tận hưởng lợi thế từ nền kinh tế phát triển cho tất mọi người, nếu bạn muốn chống lại đói nghèo-phát triển giáo dục măng non là một trong những công cụ hẹn nhất”.
Nếu trẻ sử dụng tiếng Việt và tiếng khác thì sự thiếu hụt ít nhất một lĩnh vực trở lên cao nhất với 68,3%. 166 phiếu hiệp được dùng để phân tích. Những vùng có tỉ lệ phần trăm trẻ bị thiếu hụt một lĩnh vực phát triển trở lên, thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ với 15,9%, Bắc Trung Bộ 16,3%, đồng bằng sông Hồng 20,1%, đồng bằng sông Cửu Long 21,8%.
Tỉ lệ phần trăm trẻ bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ thiếu hụt ít ra một lĩnh vực phát triển trở lên cao nhất ở vùng Tây Nguyên với 44,9%, vùng trung du miền núi phía Bắc 31,9%, Nam Trung Bộ 27,8%. Nhân tố tiếng nói có liên tưởng tới sự thiếu hụt các lĩnh vực phát triển của trẻ tương đối rõ rệt.
Tại hội nghị này, một vắng đánh giá phát triển trẻ nít (EDI) Việt Nam năm 2013 cho thấy nhiều điều bất ngờ về khả năng sẵn sàng đi học của trẻ mầm non Việt Nam.
Bà Xiaoqing Yu cũng cho biết: “Rất nhiều bằng cớ trên thế giới cho thấy nhiều kỹ năng tư duy, kỹ năng ngôn ngữ cũng như kỹ năng từng lớp và kỹ năng ứng xử được hình thành trong những năm đầu đời của trẻ”. Và, tỉ lệ thiếu hụt trong một lĩnh vực phát triển trở lên ở trẻ đi học liên tiếp từ 3 đến 5 tuổi thấp hơn so với trẻ không đi học liên tục từ 3 đến 5 tuổi.
Bà Mỹ An thông báo thêm, trẻ được đi học liên tục từ 3 đến 5 tuổi có lợi nhiều cho chừng độ sẵn sàng đi học của trẻ. Khảo sát đánh giá phát triển trẻ con (EDI) Việt Nam năm 2013 được thực hiện bởi Bộ GD&ĐT và Ngân hàng thế giới. Đối với trẻ được ăn bán trú tại trường, tỉ lệ trẻ bị thiếu hụt chí ít một lĩnh vực trở lên thấp hơn so với trẻ chỉ được đi học một buổi. 404 trẻ từ 200 trường măng non ở 100 huyện thuộc 54 tỉnh, trong đó có 8.
Nếu trẻ chỉ dùng tiếng dân tộc thiểu số thì sự thiếu hụt chiếm đến 48,5%. Bà Trần Thị Mỹ An, chuyên gia giáo dục của nhà băng thế giới cho rằng, tuồng như các yếu tố kinh tế, tầng lớp, văn hóa có ảnh hưởng đến tỉ lệ phần trăm trẻ bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ thiếu hụt một lĩnh vực phát triển trở lên.
Có đến hơn một nửa các bé 5 tuổi (50,68%) bị thiếu hụt hoặc có nguy cơ bị thiếu hụt ít ra một trong năm kỹ năng cấp thiết để bắt đầu đi học.
Bộ công cụ đánh giá bao gồm 5 lĩnh vực của trẻ: sức khỏe và thể chất, phát triển năng lực từng lớp, sự trưởng thành tình cảm, kỹ năng ngôn ngữ và phát triển nhận thức, kỹ năng giao tế và hiểu biết chung. Khảo sát được tiến hành từ ngày 27/4/2012 đến 15/5/2012 bằng bộ dụng cụ đánh giá phát triển trẻ em (EDI) do trọng điểm Nghiên cứu trẻ mỏ Offord tại Đại học McMaset Canada đã sử dụng để đo chừng độ sẵn sàng đi học của trẻ năm tuổi.
Số trẻ được chọn mẫu khảo sát là 8. Tỉ lệ phần trăm trẻ dân tộc thiểu số thiếu hụt một lĩnh vực phát triển trở lên chiếm 45,4%, cao hơn 2 lần trẻ không thuộc dân tộc thiểu số (19,4%).
Trẻ dân tộc thiểu số có tỉ lệ trẻ bị thiếu hụt cao nhất ở lĩnh vực kỹ năng giao tế và hiểu biết chung với tỉ lệ 39%.
Trong đó, trẻ trai bị thiếu hụt nhiều hơn trẻ gái với tỉ lệ 55,48%, trẻ gái chiếm 45,49%.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét